Tập luận này có mục đích cung
cấp cho các đạo hữu có ít th́ giờ nghiên cứu
kinh sách, một cái nh́n tổng quát và giản dị về
Phật học. Ngay từ khi c̣n ở nước nhà, chúng
tôi đến tuổi già đă cảm thấy cần
phải hiểu ư nghĩa sinh tử, thiện ác, có quả
báo ǵ không ? sau khi chết có c̣n ǵ nữa không ? v . v . Bởi
vậy chúng tôi đă ra công nghiên cứu nhiều bộ kinh
và sách giảng về Phật học, đặc biệt là
các cuốn sau đây :
- Kinh Kim Cang, kinh Bát đại nhân giác,
kinh Phật thuyết A Di Đà, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, v . v .
- Cuốn Phật học tinh hoa của
Nguyễn Duy Cần, cuốn Lăng kính đại thừa
của Nghiêm Xuân Hồng, cuốn Duy Thức học của
thượng tọa Nhất Hạnh, cuốn Sáu cửa
Thiếu thất tương truyền của tổ sư
Bồ Đề Đạt Ma do cư sĩ Trúc Thiên dịch,
cuốn Phật giáo Thánh kinh của nữ phật tử
Trung Hoa Dương Tú Hạc do thượng tọa Thích Trí
Nghiên dịch, v . v .
Công việc học hỏi thật là
khó khăn và man mác, nên chúng tôi nghĩ nên giản
lược những ư kiến đă thu thập
được trong một tập luận tổng quát có
mạch lạc và dễ hiểu. Những ư kiến chúng tôi
sẽ tŕnh bầy cố nhiên không phải là do chúng tôi
nghĩ ra, mà cũng không phải là trích nguyên văn từ
một cuốn kinh hay một cuốn sách nào, mà là do chúng
tôi, sau khi suy nghĩ chín chắn và hiểu (hoặc
tưởng là hiểu), phối hiệp nhiều kinh sách
với triết lư và khoa học thường thức
để t́m giải đáp thích ứng nhất cho chúng ta
đă thừa hưởng một nền văn hóa cổ
truyền Việt tộc và đang sống ở thời
đại nguyên tử.
Vậy chắc chắn tập luận
này c̣n nhiều thiếu sót và sai lầm nữa, mong
được quư đạo hữu cao minh chỉ giáo cho.
Bảng
mục lục những phần của tập luận này
sẽ được ghi ở trang cuối.
A. V́ đời người là bể
khổ.
1) Trong cuộc đời, ai cũng có
những lúc vui sướng và những lúc buồn khổ,
dù là kẻ cùng đinh hay bậc cực quư, cực phú. Nói
chung, quan niệm của loài người là như vậy :
đời vừa có vui, vừa có khổ. Và đó cũng
là quan niệm thông thường của các tôn giáo ngoài
Phật giáo, và của các hệ thống triết học
(trừ một vài đặc lệ như triết học
bi quan của Schopenhauer).
Người Gia Tô giáo sung sướng
và thấy ḷng ḿnh được b́nh an trong t́nh
thương của Đức Chúa. Đôi khi họ cũng
thấy khổ, nhưng coi cái khổ đó là thử thách
của Đức Chúa, nên nhẫn nhục chịu đựng.
Khổng học th́ lại rất
lạc quan. Cái học của người quân tử là tu,
tề, trị, b́nh. Có phận th́ ra làm quan, giúp vua, giúp
nước. Không phận th́ lui về làm ruộng, làm
một tên bạch đinh, cũng vui.
Tinh thần Đông phương an bần
thủ phận đó c̣n rơ ràng hơn nữa trong Đạo
giáo, coi công danh phú quư như phù vân. Nhưng người
đạo sĩ cũng như nho sĩ, vẫn lạc
quan. Họ chỉ tránh tục lụy của xă hội
nhiều lễ giáo bó buộc, phiền phức. Và họ
đành ḷng vui thú với một cuộc đời
đạm bạc, với gió mát trăng thanh.
2) Chỉ riêng Phật giáo là có một luận
điệu triệt để và tổng quát : đời
người là bể khổ. Trong diệu đế
thứ nhất là Khổ đế, đức Phật
đă nói dứt khoát : "Sinh là khổ, chết là khổ,
cái ǵ ưa thích mà phải rời là khổ, cái ǵ ghét mà
phải gần là khổ . . ."
3) Quan niệm bi quan như thế có
đúng không ? Phải nhận rằng phần đông
thế nhân khó mà chấp nhận nó một cách triệt
để, mặc dầu nó căn cứ trên kinh nghiệm
của đức Phật (qua cuộc tuần du ở
bốn cửa thành) và của chính chúng ta khi chúng ta gập
những việc bất như ư. Tuy nhiên, nếu chịu
khó nghĩ kỹ, th́ sẽ thấy rằng không những
cái khổ không thể tránh, mà cái gọi là sướng
cũng đă có sẵn mầm khổ :
- Cái vui sướng chỉ có trong
chốc lát, không được trường tồn.
"Không có bữa tiệc nào là không có lúc tàn ", do đó
cái vui sướng không được hoàn toàn. Hơn thế
nữa, nó c̣n làm cho người ta trong lúc vui sướng
phải lo lắng sợ nó chóng hết, ví dụ
người được bổ vào làm một chỗ béo
bở luôn luôn lo lắng không biết lúc nào sẽ mất
chỗ đó.
- Cái vui sướng đôi khi phải
trả giá trước bằng một cái khổ. Ví dụ
muốn có cái sướng thi đỗ th́ phải chịu
khổ học ngày, học đêm: muốn có cái
sướng được làm ông lớn th́ có khi phải
khổ quỵ luỵ luồn cúi.
- Cái vui sướng đôi khi có hậu
quả là đem lại một cái khổ. Ví dụ sau
một bữa tiệc thịnh soạn có thể bị
bội thực, có nhiều tiền sẽ bị
người ḍm dỏ, có địa vị sẽ bị
người ghen ghét.
- Cái vui sướng của
người này đôi khi là cái khổ của người
khác. Ví dụ người đánh bạc được
sướng th́ người thua bạc khổ, ông quan
ăn tiền sướng th́ người dân bị bóc
lột khổ, gian thương làm giầu sướng th́ người
cùng đinh khổ. . .
4) Dù có hiểu điều đó,
rằng trong cái sướng đă có sẵn mầm khổ,
phần đông chúng ta vẫn chưa sẵn sàng chấp
nhận Khổ đế của Phật giáo. V́ sao ? V́ chúng
ta có thể nghĩ rằng : Ừ, ở đời có
người khổ thiệt, đói rét, không nhà cửa,
không có cha mẹ vợ con để được
nương tựa và an ủi. Nhưng chúng ta may mắn
không phải chịu kiếp sống khổ cực đó.
Ừ, chúng ta cũng có những ngày giờ đau khổ :
khi ốm đau bệnh tật, khi cha già mẹ héo, khi
phải lo lắng cho con cái, v . v . Mặc dầu vậy,
những ngày giờ đau khổ đó ít, những ngày
giờ vui sướng nhiều hơn, cái này bù đắp
cái kia, vậy việc ǵ phải bi quan, phải nhận
đời người là bể khổ ? Việc ǵ
phải khó nhọc tu hành, việc ǵ phải ép xác giữ
giới ?
Nếu ta chỉ có một cuộc
đời, một kiếp sống, th́ lư luận trên có
thể đứng vững. Hơn thế nữa, cả
luận điệu của một số người gian
ác cũng sẽ đứng vững. Họ bảo :
"Sống là bậc thánh nhân như Văn Vương và
Khổng Tử, chết là xương khô. Sống là kẻ
tàn bạo như Kiệt, Trụ, chết cũng là
xương khô. Vậy tuy biết rồi sẽ có lúc khổ,
nhưng được lúc nào vui sướng hăy biết lúc
đó, cứ gian ác tàn bạo để cướp lấy
phú quư, tội ǵ ép ḿnh làm điều thiện ?"
Khốn thay, chết đâu phải là
hết, sẽ c̣n phải tái sinh trong muôn ngàn kiếp
nữa. Mà ai dám chắc rằng kiếp sau ḿnh sẽ
lại may mắn như ở kiếp này, sẽ không
bị cơ hàn, tứ cố vô thân ? Biết đâu
kiếp sau sẽ không bị tàn tật ngay khi sinh ra
đời, câm, mù, xấu xí ghê tởm, hay ngu si đần
độn ? Phải, biết đâu không, nhất là ở
kiếp này nếu đă có làm điều ǵ thất
đức ? Cái tương lai mờ mịt đó thật
là khủng khiếp. Nhắm mắt chối bỏ nó, khác
nào người đi trên con đường bằng
phẳng, biết rằng cuối đường sẽ là
vực sâu thăm thẳm, mà không t́m cách đi rẽ sang con
đường khác ? Ai lại có thể ngu si hay
ương ngạnh ngoan cố như thế
được ?
Vậy giáo lư luân hồi bổ
khuyết cho giáo lư đời là bể khổ , nó khiến
cho ta, dù kiếp này tạm được sung sướng,
cũng phải lo sợ cho kiếp sau mà mau mau t́m đường
giải thoát.
Nhưng luân hồi có thiệt không ? Đó
là vấn đề cốt yếu cần phải nghiên
cứu cho minh bạch. Nếu nó sai, th́ toàn bộ giáo lư
đạo Phật sẽ sụp đổ, v́ sẽ
mất căn bản. Nếu nó đúng, th́ cứ nhơn
nhơn túy sinh mộng tử trong một kiếp sống ngắn
ngủi sẽ là một cử chỉ ngu si, tự gieo ḿnh
vào khổ năo trong muôn vàn kiếp khác.
B. V́ có luân hồi.
1) Luân hồi không phải là một
giả thuyết mà là một sự kiện có thật,
đă được đức Phật kinh nghiệm, và
một số chúng ta kinh nghiệm.
Kinh Trung A Hàm thuật rằng trong
đêm đức Phật đắc quả Chánh Đẳng,
Chánh Giác, lúc canh một, Ngài đắc Túc mạng Minh là
tuệ nhớ lại những kiếp quá khứ, từ
một kiếp, hai kiếp, rồi một trăm, một
ngàn, một trăm ngàn kiếp.
Cứ tạm cho rằng kinh Trung A Hàm
bịa đặt ra những chuyện hoang
đường. Nhưng kinh nghiệm của chính chúng ta
cũng cho ta cảm nghĩ rằng chúng ta đă từng
sống một hay nhiều kiếp trước. Bao nhiêu
lần t́nh cờ ta gặp một người chưa
từng quen biết, nhưng tự nhiên cảm thấy h́nh
như đă quen biết đâu đây ? Bao nhiêu lần ta
mục kích một cảnh mà ta chưa từng đến
nhưng tự nhiên có cảm giác đă quen thuộc ở
một quá khứ vô định nào ?
2) Những cảm nghĩ đó có
thể cho là vu vơ . Nhưng có điều không thể
chối căi được là giả thuyết luân hồi
giúp ta cắt nghĩa được một sự kiện
mà các tôn giáo không chấp nhận nó không thể cắt
nghĩa được thỏa đáng. Đó là vấn
đề chế tài các hành vi thiện ác. Gia Tô giáo cho
rằng mỗi người chỉ có một đời,
sau khi chết th́ hoặc lên Thiên Đường, hoặc
xuống Địa Ngục, hoặc vào Tĩnh tội giới
(Purgatoire). Điều đó có thể đúng hay sai, chưa
cần bàn đến, chỉ biết rằng trên quả
đất này hiển nhiên có người thiện bị
khổ sở, kẻ ác được sung sướng.
Tại sao thế ? Nếu bảo rằng đó là ư
muốn của Chúa, th́ Chúa há chẳng bất công lắm sao
? Nếu bảo rằng Chúa không can thiệp đến
việc trần thế, ai làm ác, ai làm thiện, sẽ
bị trừng phạt hoặc được đền
bù sau khi chết, th́ vẫn chưa giải thích vấn
đề tại sao ở đời hiện tại có
người lành bị khổ, có kẻ ác được
sung sướng.
Trái lại, đạo Phật với
giáo lư luân hồi cắt nghĩa rất dễ dàng sự
kiện trên. Kiếp trước gây nhân thiện hay ác, th́
kiếp này hưởng quả sướng hay khổ. Theo
định luật Nhân Quả một cách tự
động, như trồng dưa th́ được
dưa, trồng đậu th́ được đậu,
không cần phải có sự can thiệp của vị
thần thánh nào cả.
3) Ngoài ra, giáo lư Luân Hồi c̣n cho phép ta
giải thích một số sự kiện mà cả luật
di truyền, khoa Tử Vi, và sự phát triển bất
thường của một hạch nội tiết (glande
endocrine) đều không thể giải thích được
một cách thỏa đáng :
- Tại sao hai đứa trẻ cùng
cha mẹ lại khác nhau về h́nh hài, tính t́nh, óc thông minh ?
(luật di truyền gần giải đáp được
ổn thỏa, nhưng vẫn chưa đủ).
- Tại sao hai đứa trẻ sinh
cùng một nơi, cùng một giờ, lại có số
phận khác nhau ? (trái với khoa Tử Vi).
- Tại sao một đứa trẻ
mới vài tuổi đă học một biết
mười, đă có thể nói nhiều thứ ngoại
ngữ, hiểu toán học và triết học như
người lăo thành, biết làm thơ, đánh đàn ?
(hạch nội tiết không đủ để cắt
nghĩa những bậc thần đồng đó, h́nh
như chỉ ôn lại những ǵ đă học trong
một hay nhiều tiền kiếp).
4) Những lư lẽ trên đây mới
chỉ bênh vực giả thuyết Luân Hồi, nghĩa là
nếu ta chấp nhận nó th́ nhiều vấn đề
sẽ được giải thích thỏa đáng. Nhưng
thật ra chúng ta chưa cắt nghĩa do đâu mà có luân
hồi, và làm sao để chấm dứt luân hồi.
Những điểm này sẽ được tŕnh bầy
ở đoạn Thập Nhị Nhân Duyên.
II. Lư Luận Phật Học.
1) Những lời thuyết pháp của
đức Phật nhiều khi có vẻ mâu thuẫn và
nghịch lư. Tại sao vậy ?
- Người thường và cả các
nhà khoa học cho tới gần đây đều lư
luận trên nguyên lư đồng nhất của Aristote : A là
A, B là B, một sự việc không thể đồng
thời vừa là A, vừa là B.
- Biện chứng pháp của Hegel, không
hẳn khước từ nguyên lư đồng nhất,
đă cố gắng nối liền hai cái tương
phản thành một, trong quá tŕnh Chánh đề - Phản
đề - Tổng hợp. Ví dụ con gà đẻ ra
trứng, rồi quả trứng hủy thể để
thành con gà, rồi con gà lại đẻ ra trứng. Như
vậy, tuy A vẫn là A, không phải là B, nhưng sẽ
biến chuyển thành B. Nghĩa là khẳng định và
phủ định là hai giai đoạn của một cái
luôn luôn biến chuyển, chứ không phải hai trạng
thái im ĺm bất động.
- Lư luận của nhà Phật đi xa
hơn nữa, nghĩa là có thể vừa khẳng
định, vừa phủ định. Vậy ta chớ
vội phê phán rằng các kinh điển Phật giáo có
lối lư luận h́nh như mâu thuẫn và nghịch lư. Ví
dụ câu sau đây trong kinh Kim Cang : Cái gọi là Phật
pháp tức chẳng là Phật pháp, nên gọi là Phật
pháp. Phật nói chúng sinh, tức chẳng phải là chúng
sinh, cho nên gọi là chúng sinh . v . v .
- Lẽ tự nhiên, vấn đề
đặt ra là phải t́m hiểu tại sao Phật giáo
lại có lư luận biện chứng như vậy ? Hegel
dùng biện chứng pháp để chứng minh rằng
ở đời chẳng có ǵ là trường tồn :
luật lệ, ư niệm thiện ác, định chế xă
hội, v . v . và vạch rơ rằng sở dĩ mỗi
sự vật phải biến chuyển sang cái khác v́ có
sẵn mầm mâu thuẫn nội tại.
Nhưng Phật giáo có một lư do khác
để xử dụng lư luận biện chứng. Ta
sẽ biết rằng mục đích rốt ráo của
Phật là đưa chúng sinh đến cảnh giới
Chân Như tuyệt đối, tức là Chân Không Diệu
Hữu. Nói một cách dễ hiểu hơn, cây cỏ, súc
sinh, loài người, Phật, tất cả chỉ là
những hiện tượng sai biệt của Tâm Vũ Trụ,
sai biệt chỉ v́ mỗi chủng loại có tâm ở
tŕnh độ mở mang khác nhau, nhưng tất cả
đều đồng thể, đồng tánh. Nhưng
giảng ngay như thế không được, v́ chúng sinh
c̣n mê muội, nên đức Phật phải dần
dần, từng bước từng bước một, phá
cái chấp này, rồi phá đến cái chấp kia, rồi
phá luôn cả cái chấp vào những điều Phật
vừa giảng dạy. Đó là ư nghĩa của câu : Chớ
nhận lầm ngón tay chỉ trăng làm mặt trăng.
2) Người Tây phương
thường dùng lư trí để t́m hiểu uyên nguyên
của Vũ trụ và ư nghĩa của cuộc
đời, nghĩa là để t́m hiểu cái Tuyệt đối.
Măi đến cuối thế kỷ thứ 19, người
Tây phương mới cảm thấy rằng cái truyền
thống duy lư mà họ thừa hưởng của văn
hóa cổ Hy Lạp không đủ cho phép họ đạt
tới Tuyệt đối. Do đó một số triết
gia Tây phương như Nietzsche, Sartre mới đề
xướng việc từ bỏ lư trí mà đem tâm thức
vào ḍng hiện sinh, thể nghiệm chính ḿnh để
đẩy ḍng hiện sinh của ḿnh nhập vào ḍng
hiện sinh của Vũ trụ. Và có thể họ đă
đạt được mục đích đó, nhưng
kết quả lại là sự nổi loạn (Nietzsche),
hoặc buồn nôn (Sartre) v́ họ không có chí tu hành, không dám
nghĩ rằng nhập làm một với bản thể
vũ trụ có thể đưa họ đến cảnh
giới siêu nhiên, đến thành Tiên, thành Phật. Tức
là họ vẫn c̣n vương vít một chút lư trí phàm
trần.
Người Đông phương th́ không
thế. Họ không phải là những triết gia đi t́m
Tuyệt Đối để hiểu, mà là những tu sĩ
cố gắng ḥa ḿnh vào Bản Thể tuyệt đối
bằng cách tu tâm dưỡng tánh. Vậy ta chớ ngạc
nhiên khi thấy Thiền tông, là phái đại diện
triệt để nhất tư tưởng Phật giáo,
gạt bỏ lư trí, gạt bỏ cả các kinh điển
(sau khi đă học) để cố gắng nhập Chân
Như bằng công phu ngồi Thiền, nhập
định. Nói một cách khác, nó là một phương pháp
khai ngộ hơn là một giáo lư khai tri. V́ nó chủ
trương khai ngộ rồi sẽ tri, không thể tri
trước ngộ. Dưới đây, chúng ta sẽ có
dịp xem xét quan điểm đó có đúng không, và đúng
tới phần nào.
I. Sự Phân Hóa Tư Tưởng Phật
Giáo.
A.
Nhận xét và định nghĩa.
Ai
cũng biết rằng hiện nay Phật giáo chia làm 2
nghành chính là : Tiểu thừa và Đại thừa. Thật ra,
trên lịch sử giáo hóa, vào thời đức Phật c̣n
tại thế, chưa hề có Tiểu thừa, Đại
thừa đối lập nhau. Tăt cả sự phân chia
chỉ phát sinh sau thời đức Phật nhập
Niết Bàn.
1)
Nói chung, Tiểu thừa đối với giáo pháp hoặc
hành pháp của Phật, chuyên đứng về mặt h́nh
thức mà giải thích : Phật quy định thế nào
th́ cứ thế mà thật hành, Phật nói thế nào th́
cứ thế mà tiếp thụ. Bởi vậy phái này có
vẻ trung thực, và rất thịnh hành trong vài thế
kỷ sau khi Phật nhập Niết Bàn. Nhưng đă quá
câu nệ vào h́nh thức th́ tất nhiên sao lăng phần tinh
túy. Kết quả là nền Phật giáo đầy hứng
vị nhân sinh do đức Phật khai sáng, dần dần
trở thành khô cứng.
2)
Để đối lại chủ trương h́nh thức
của Tiểu thừa (c̣n gọi là Thượng Tọa
bộ), một số đông tín đồ, cả tăng
lẫn tục, lập ra Đại thừa (c̣n gọi Đại
Chúng bộ), chủ trương giải thích giáo pháp và giáo
lư một cách rộng răi hơn, tự do hơn. Họ nói
rằng giáo pháp và giáo lư của đức Phật cần
phải phát triển rộng răi khi hoàn cảnh đă thay
đổi. Nghĩa là, trên đại cương, Tiểu
thừa th́ bảo thủ, c̣n Đại thừa th́ tự do
cấp tiến. Bây giờ xin xét lại sự bất
đồng giữa hai phái một cách chi tiết hơn.
B.
Sự bất đồng về h́nh thức.
1/
Tiểu thừa lấy giáo hội làm bản vị, nên
lấy tăng lữ làm chủ. Tuy có đủ 4 chúng :
tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà ni,
nhưng về mặt sinh hoạt của giáo đoàn th́
chỉ lấy người xuất gia làm chủ. Đại
thừa, trái lại coi trọng cả những đệ
tử tại gia, chứng cớ là bộ kinh Duy Ma Cật.
2/
Tiểu thừa có tính cách chuyên môn, chuyên lưu tâm về
giới luật thật tỷ mỉ, và lấy việc chú
thích các kinh điển sát với nghĩa làm công tác chính, cho
nên các bộ luận của Tiểu thừa rất
phiền toái, lư luận cứng nhắc. Trái lại,
Đại thừa nhắm về đại chúng nên các bộ
luận của Đại thừa đơn giản hơn,
nhẹ về lư luận và nặng về trực giác. Ví
dụ niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát
để cầu xin cứu giúp, hoặc tin vào bản
nguyện của Phật A Di Đà để cầu văng sanh
tịnh độ, là những giáo pháp đơn giản và
thông tục.
C.
Sự bất đồng về nội dung.
1/
Tiểu thừa lấy đại đệ tử của
Phật làm lư tưởng, v́ cho rằng Phật là một
nhân vật đặc biệt, người thường
không thể sánh kịp, dù có cố gắng tu hành cũng
chỉ đến được quả vị A La Hán là
cùng. Đại thừa, trái lại cho rằng hết thẩy
chúng sinh đều có Phật tính, nên lấy Phật làm lư
tưởng. Điều này được khẳng
định rơ ràng trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Tín
Giải, có nói dụ Cùng Tử.
2/
Nhận xét về đức Phật, Tiểu thừa coi
Ngài là một nhân vật lịch sử đă sống ở
Ấn Độ cách đây 2500 năm, một nhân vật
đặc biệt do công phu tu luyện qua nhiều
đời kiếp mới thành, nên không có một Phật
nào khác.Trái lại, Đại thừa đă chủ trương
rằng mọi người đều có Phật tính nên
không hạn chế một Phật ở một thời
gian và một thế giới nào, nhận có vô số
Phật ở khắp thế giới và khắp thời
gian, như đă nói ở kinh Lăng Nghiêm.
3/
Về Niết Bàn, Tiểu thừa quan niệm là một
cảnh hư vô tuyệt diệt, hết cả phiền
năo khổ đau. Trái lại, Đại thừa giải thích
Niết Bàn là đại nguyện cứu độ chúng
sinh, vĩnh viễn hoạt động mà tâm không nhiễm
trước. Do đó, Đại thừa đề cao vai tṛ
của các vị Bồ Tát như Địa Tạng và Quán
Thế Âm, nguyện cứu độ tất cả chúng
sinh trước khi thành Phật. Nói một cách khác, Tiểu
thừa nghĩ đến tự độ và xuất
thế là công việc chánh, c̣n Đại thừa th́ vừa
xuất thế, vừa nhập thế để cứu
độ chúng sinh.
V́
những điểm khác biệt đó, nên Đại thừa
có nhận xét khác Tiểu thừa về Bản Thể
Vũ Trụ, nhưng vẫn chung nhận xét với
Tiểu thừa về các hiện tượng thế
giới trong đó chúng ta đang sống.
II.
Hiện Tượng Luận.
1.
Vô thường.
A.
Vạn vật đều vô thường, nghĩa là thay
đổi luôn luôn. Đây là một sự kiện mà kinh
nghiệm hàng ngày, khoa học, cho chí các tôn giáo khắp Đông
Tây kim cổ đều xác nhận. Động vật nào
cũng sinh, rồi già, rồi chết. Thực vật
cũng vậy. Đến các khoáng chất, núi non, sông bể,
cũng có sinh diệt, mặc dầu một đời
người không nh́n thấy, nhưng Địa lư học,
Địa chất học đều chứng minh rằng
bể cũng đă từng trồi lên thành lục
địa, núi cũng đă từng sụt xuống thành
đại dương, trong khoảng vài ngh́n năm
hoặc vài triệu năm. Ngay đến trái đất,
mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, cũng phải
tuân theo định luật sinh diệt nếu ta quan sát
những khoảng thời gian dài vài tỷ năm, vài
chục tỷ năm.
B.
Tính cách vô thường trên đây, người phàm phu
cũng biết. Sự hiểu biết của nhà Phật
sâu sắc hơn :
1/
Sự biến đổi không phải lâu lâu mới xẩy
ra, mà trong mỗi giờ, mỗi phút, mỗi sát-na, nghĩa
là không lúc nào ngừng, mặc dầu ta không nhận
thấy rơ rệt. Lăy một tỷ dụ sau đây dẫn
chứng : ta quay phim một đóa hoa từ lúc hàm tiếu
cho tới lúc nở tung, mỗi phút một tấm ảnh,
mất nửa ngày. Trong thời gian nửa ngày đó, ta
chăm chú nh́n hoa và lúc nào cũng có cảm tưởng
rằng nó im ĺm bất động. Nhưng nếu ta
đem quay cuốn phim, th́ sẽ thấy có sự thay
đổi rất nhỏ từ mỗi tấm ảnh sang
tấm ảnh kế tiếp.
Muôn
sự cũng vậy, cây cỏ, thân thể ta luôn luôn thay
đổi v́ các tế bào sinh sinh diệt diệt không
ngừng. Núi sông cũng vậy, v́ nắng mưa, nóng
lạnh, núi th́ luôn luôn bị ṃn mất đi từng ḥn
đá, từng hạt bụi, c̣n sông th́ chỗ lở
chỗ bồi, nước luôn luôn lưu chuyển từ
nguồn ra biển.
2/
Vậy vạn sự vạn vật h́nh như hằng mà
thật là chuyển. Hằng là tính chất nhận lầm,
chuyển mới là tính chất thật. Từ ngàn xưa,
Héraclite và kinh Dịch đă tuyên bố chân lư đó. Phật
học lấy nó làm khởi điểm cho một cách nh́n
vào các sự vật.
3/
Phật học lại c̣n đặc sắc ở chỗ
đi từ ư niệm vô thường mà ai cũng dễ
dàng chấp nhận, tới ư niệm Vô Ngă, một ư
niệm mà thế tục cho là phi lư, là trái với nhận
thức hiển nhiên.
2.
Vô Ngă.
A.
Thật vậy, ư niệm Vô Ngă khó chấp nhận hơn ư
niệm Vô Thường. Đành rằng con sông phút này không y
hệt con sông phút trước, cây tùng phút này không y hệt
cây tùng phút trước, thằng Tôi lúc này, kể cả h́nh
hài lẫn tâm tư, không y hệt thằng Tôi phút
trước, tháng trước, năm trước, nhưng
vẫn có con sông, cây tùng và thằng Tôi chứ ? Làm sao
lại bảo rằng chúng không có tự ngă ?
B.
Để trả lời câu hỏi đó, kinh Phật có ghi
lại cuộc đàm thoại giữa vua Milanda và tu sĩ
Nagasena (Tầu dịch là Na-tiên). Vua hỏi tu sĩ tên là ǵ,
và được trả lời :
-
Tâu bệ hạ, bọn đồng đạo gọi tôi
là Nagasena. Nhưng đó chỉ là một dấu hiệu,
một tiếng gọi. Chớ ở đây không có
người Nagasena. V́ người Nagasena chỉ là một
mớ tóc, lông, da, thịt, xương v . v ., không có một
cái nào đó là Nagasena cả. Cũng vậy, cái xe của nhà
vua gồm có gọng xe, bánh xe, thùng xe, v . v ., chẳng có
bộ phận nào đó là cái xe cả. Vậy cái xe chỉ
là một dấu hiệu, một tiếng gọi, nó không có
thực.
Xin
nói rơ thêm về điểm này một chút. Các bộ
phận của h́nh hài ta có thể mất đi, đổi
thay đi. Ví dụ tóc râu ta cạo đi, móng tay, móng chân ta
cắt đi, chân tay bị cưa đi của
người thương binh, con mắt, quả tim nay
đă có thể thay đổi, rồi sau này biết đâu
khoa học tiến bộ sẽ có thể thay đổi
cả bộ óc ? Nói tóm lại, chẳng có cái bộ
phận nào trong người là trường tồn, là có
thể gọi là Ta.
C.
Lối trả lời trên vẫn chưa đủ. Nó
chỉ cho ta thấy rằng không có cỗ xe tự ngă, không
có Nagasena tự ngă, mà chỉ có gọng xe, bánh xe, thùng xe, chỉ
có mớ tóc, lông, da, thịt v . v . Tiến lên một
bước nữa, Phật giáo bảo rằng gọng xe,
thùng xe, tóc, lông, da, thịt cũng không có nốt, chỉ là
do tứ đại (địa, thủy, hỏa, phong)
nghĩa là 4 yếu tố : đặc, lỏng, nóng,
động, giả hợp mà thành ra. (Khoa học ngày nay cho
ta biết rằng tứ đại là các nguyên tử, hay
nói cho đúng hơn là các thành phần của nguyên tử
như âm điện tử, dương điện tử,
và trung ḥa tử (electrons, protons, neutrons) , v . v . C̣n Dịch
học và Lăo giáo th́ gọi nó là âm dương).
Cái
mà người ta thường gọi là Ta cũng vậy.
Nó có 2 phần : một phần sinh lư là Thân, và một
phần tâm lư là Tâm.
1/
Thân ta, cũng như mọi vật khác, đều do
tứ đại giả hợp (tế bào nguyên tử).
Hơn thế nữa, trong người tôi có thể đang
có những nguyên tử hôm trước, tháng trước đă
từng ở trong người đạo hữu, hoặc
nhiều thế kỷ trước đă từng ở
trong người Quan Công, Tào Tháo, Lê Lợi, Napoléon, chúng luôn
luôn vận chuyển trong vũ trụ, đâu có cái nào là
của riêng Ta, là cái Ta h́nh hài ? (Moi corporel)
2/
C̣n cái Tâm của ta ? Tâm linh của ta là ǵ ? Theo nhà Phật,
tâm linh là sự hội họp của thất t́nh : hỉ,
nộ, ai, lạc, ái, ố, dục với những tri giác
suy tưởng, khái niệm, phán đoán. Nhà Phật phân tích
những thứ ấy ra làm bốn loại, gọi là :
thọ, tưởng, hành, thức . Khi th́ ta vui, khi th́ ta
buồn, chợt nghĩ đến cái này, rồi lại
chợt nghĩ đến cái khác, chẳng khác ǵ ḍng sông
luôn luôn trôi chẩy. Vậy nếu đem bỏ những
cái không phải là Ta đó đi, th́ c̣n cái ǵ trường
tồn có thể gọi là cái Ta tâm linh đâu ? (Moi psychique).
Vậy
sắc (thân) và thọ, tưởng, hành, thức (Tâm)
gọi chung là Ngũ Uẩn đều không có cái ǵ là Ta
cả. Chỉ v́ nhân duyên giả hợp mà in tuồng
như có.
3/
Như vậy, dưới con mắt siêu việt của
đức Phật, mọi sự vật trong vũ
trụ, núi sông, cây cỏ và con người, đều vô
thường và vô ngă, tất cả chỉ là sự giả
hợp của ngũ uẩn mà thôi, sinh rồi diệt,
diệt rồi lại sinh, cái hiện tượng sinh sinh
diệt diệt đó tuân theo nguyên lư Nhân Duyên Quả Báo
thường gọi tắt là Nhân Quả.
3.
Nhân duyên quả báo.
a.
Của vạn pháp nói chung.
1/
Định nghĩa : Nhân (nghĩa đen là hột giống)
tức là những sự vật có cái năng lực sinh
sản ra Quả (nghĩa đen là trái cây). Duyên là những
sự vật hỗ trợ cho Nhân sinh ra Quả. Tỷ
như hột lúa có cái sức phát sinh ra cây lúa, th́ hột lúa
là Nhân, cây lúa là Quả, mà tất cả những
điều kiện thuận tiện như đăt,
nước, phân, v . v . giúp cho hột lúa sinh ra cây lúa,
đều gọi là Duyên.
Nhân
Duyên ḥa hợp với nhau mới sinh ra vạn pháp. Nếu
có Nhân mà thiếu Duyên, th́ Nhân cũng không sinh ra Quả
được. Nếu chỉ có Duyên mà chẳng có Nhân th́
tất nhiên cũng không có Quả.
2/
Tŕnh bầy.
a)
Nguyên lư Nhân Quả chính là nguyên lư Tăt Định (déterminisme)
của khoa học ngày nay. Nó nói rằng có một số Nhân
Duyên N.D. th́ tất nhiên phải có Quả Q. Nếu thiếu
sót các N.D. th́ Q sẽ không thành. Ví dụ có hơi
nước ở biển, sông, ao, hồ bốc lên thành mây,
hoặc có mây nhưng lại không gập lạnh, th́
cũng không thành mưa.
Nguyên
lư Nhân Quả chi phối toàn thể vũ trụ vật lư,
do đó có trật tự trong vũ trụ, các hiện
tượng không thể phát sinh một cách bừa băi, nay
thế này, mai thế khác. Đun nước trên lửa th́
nước phải bốc hơi, không thể biến thành
băng được. Không những thế giới vô
cơ, mà cả thế giới hữu cơ cũng
vậy, trồng dưa được dưa, trồng
đậu được đậu.
b)
Một mặt khác, nguyên lư Nhân Quả của nhà Phật c̣n
có ư nghĩa sâu sắc hơn nguyên lư Tăt Định của khoa
học. Không những nó bảo rằng mỗi sự
việc đều do nhân duyên mà thành, nó c̣n nhấn mạnh
đến ư niệm vô ngă. Ví dụ một cây gỗ tùy theo
một số nhân duyên ( trong đó có nhu cầu của
giới tiêu thụ, những nhu cầu này lại tùy
thuộc một số điều kiện khác liên miên
bất tận như tŕnh độ giáo dục,
hưởng thụ nhà cao cửa rộng) mà cây gỗ
đó khi được tạo thành cái cửa, một
số nhân duyên khác kết hợp th́ thành cuộn giấy.
Đó là ư nghĩa của câu : Nhất thiết Pháp, nhân duyên sinh
(tất cả các Pháp đều do nhân duyên mà sinh ra), và
của câu : Ly nhân duyên biệt vô ngă (rời bỏ nhân duyên
ra, không c̣n có ǵ gọi là ngă cả).
3/
Nghiệp lực.
Cái
nối liền Nhân với Quả, cái sức tiềm tàng do
Nhân phát ra để rồi sinh ra Quả, được
gọi là Nghiệp Lực. Có Nhân mà Quả có khi không sinh ra,
như chúng ta đă biết. Nhưng trái với Quả,
Nghiệp Lực bao giờ cũng phát động một
khi Nhân đă có. Thế cho nên, trong giáo lư Nhân Quả, cái quan
trọng cần chú ư không phải là Quả mà là Nghiệp
Lực. Và ta sẽ thấy Nghiệp Lực có một vai
tṛ hết sức quan trọng trong đời sống
của con người, và trong lịch tŕnh cấu tạo,
hoạt động và di chuyển Nghiệp Lực từ
kiếp này sang kiếp khác.
b.
Của con người nói riêng.
1/
Con người cũng như vạn pháp, vừa là quả
của một số nhân duyên (tổ tiên, cha mẹ, gia
đ́nh, xă hội, v . v . ), vừa tạo nhân, và những
nhân ấy tất nhiên phát ra nghiệp lực, rồi
sẽ sinh ra quả nếu duyên đầy đủ.
Những nhân con người tạo ra là hành vi, lời nói, ư
nghĩ. Ví dụ chăm chỉ tằn tiện th́ sẽ
giầu có, lười biếng, hoang phí th́ sẽ đói
rách, nói tốt cho người th́ sẽ gây được
cảm t́nh, c̣n nói láo, nói dối, nói xấu cho người
th́ sẽ gây ra ác cảm. Trong ba nhân đó, ư nghĩ quan
trọng hơn cả. Phật giáo luận về thiện
ác đều căn cứ vào chỗ tâm địa phát ra,
chứ ít chú trọng tới sự tướng của
việc làm. Nếu v́ lợi ích cho người mà đánh
mắng, th́ hành vi ấy là hành vi thiện (ví dụ cha
mẹ đánh mắng con để dạy dỗ). Nếu
v́ muốn làm nhục người v́ thù oán, th́ đó là hành
vi ác. Trái lại, xu nịnh, nói ngọt, tưởng như
hành vi thiện, nhưng để cầu lợi, hoặc
xúi bẩy, th́ là hành vi ác.
Hơn
thế nữa, chỉ có ư niệm thiện hay ác trong trí óc,
không thực hiện bằng hành vi hay lời nói, cũng
đủ gây nghiệp lực tốt hay xấu. Ví dụ
ḿnh thấy vợ bạn đẹp, nẩy ra tà tâm
ngoại t́nh, tuy không chiếm đoạt hoặc ve văn,
nhưng cũng đă là có tội rồi, cũng đă gây
nghiệp xấu rồi. Phép tu hành của nhà Phật là
một tà niệm phát sinh, th́ phải diệt nó liền.
2/
Nghiệp lực do nhân phát sinh có hai loại : cộng
nghiệp là toàn thể nghiệp của mỗi loại
chúng sinh, và tự nghiệp là nghiệp riêng của mỗi
cá nhân.
Có
cộng nghiệp th́ có sự hưởng thụ chung
đồng ưu cộng lạc . Có tự nghiệp th́ có
sự hưởng thụ riêng, mỗi người một
phận. Ví dụ trong một nước dân chủ th́ toàn
dân được hưởng những quyền lợi
căn bản của con người, nhưng vẫn có
người sướng, người khổ. Trong một
nước chuyên chế độc tài cũng vậy, toàn
dân bị áp bức nói chung, nhưng vẫn có người
sướng, người khổ.
3/
Lư thuyết cộng nghiệp của nhà Phật không
giới hạn ở các định chế như gia
đ́nh, xă hội, nó mở rộng ra tới vũ trụ.
Phật giáo không cho rằng vũ trụ do một vị
Thượng Đế tạo ra, mà chính những cộng
nghiệp của chúng sinh đă tạo ra vũ trụ.
Thế giới Ta Bà này là thế giới của chúng sinh
lẫn lộn vừa thiện vừa ác. Địa ngục là
thế giới của những chúng sinh tội lỗi. Và
Cực Lạc thế giới là do nghiệp lực của
chư Phật tạo ra, sẽ đón tiếp những
chúng sinh ở cơi Ta Bà này đă cố gắng làm lành tránh
dữ.
Phải
thành thực nhận rằng giáo lư này táo bạo quá, bất
cứ ai có chút hiểu biết khoa học đều không
thể chấp nhận được, nó c̣n khó chấp
nhận hơn cả giáo lư Gia Tô giáo cho rằng
Thượng Đế tạo ra vũ trụ. Ta phải
gạt bỏ nghĩa đen của nó đi, và cố
gắng t́m hiểu nghĩa thực. Theo ư tôi, nó không có
nghĩa rằng nghiệp lực của chúng sinh tạo ra
vũ trụ (dưới đây Đại thừa sẽ cho
chúng ta một giải đáp thỏa đáng hơn), mà
chỉ có nghĩa rằng nghiệp lực tạo ra vũ
trụ theo như cách chúng ta nhận thức nó (tel qu'il nous
apparait), với hoàn cảnh cây cỏ núi sông, thiện ác,
sướng khổ mà chúng ta quen biết. Nếu hiểu
theo nghĩa đó, th́ chúng ta thấy ngay rằng giáo lư trên
trở nên một chân lư hiển nhiên. Vũ trụ trong
đó chúng ta đang sống, có sơn hà đại
địa, có ánh sáng, có âm thanh, có 3 kích thước trong
không gian, có thời gian trôi theo một chiều, v . v .
Nhưng đối với một loại chúng sinh khác, có những
giác quan khác hẳn chúng ta (v́ nghiệp lực của họ
khác), rất có thể họ coi vũ trụ này là một
biển ba động, không cây cỏ núi sông, một không
gian có 4, 5 kích thước, một thời gian trong đó
hiện tại, quá khứ và vị lai hợp nhất thành
một hiện tại thường hằng, v . v . Tại
sao lại không thể được ? Cái vũ trụ quái
đản đó vẫn là vũ trụ này, nhưng một
loại chúng sinh khác, có cộng nghiệp khác, nên có giác quan
khác, nên có nhận thức khác với chúng ta, chỉ có
thế thôi (Đặc biệt các vị Bồ Tát có phép
thần thông, mắt phàm chúng ta không thấy nổi,
nhưng các ngài vẫn sống chung quanh chúng ta, kiểm soát
hành vi và cứu độ những kẻ có thiện chí).
4/
Nghiệp lực không bị giới hạn bởi thời
gian. Trong giai đoạn sinh mệnh hiện tại, cá nhân
chịu quả báo của những nghiệp ở trong
kiếp này (hiện nghiệp) hoặc đă tạo ra trong
kiếp trước (túc nghiệp). Và trong kiếp này ta
đang tạo nghiệp mới, những nghiệp này có
thể chín trong kiếp, này hoặc đến kiếp sau
mới chín.
Như
vậy, nghiệp bao trùm cả quá khứ, hiện tại
và vị lai. Đây là một điểm cần đặc
biệt chú ư. Giáo lư Nghiệp Báo của đạo Phật
không phải là thuyết Tiền Định một cách máy móc,
không cho rằng cuộc đời mỗi người hoàn
toàn do Định Mệnh an bài, người thiện kiếp
trước th́ kiếp này cứ khoanh tay cũng
được hưởng phước, kẻ ác kiếp
trước th́ kiếp này cố gắng đến đâu
cũng phải khổ sở. Trái lại, Phật giáo cho
rằng tuy ta chịu nghiệp của kiếp trước
- v́ nhân đă gieo rồi - nhưng ta có thể sửa
đổi nó một phần nào bằng nghiệp ở
kiếp này. Cũng ví như người gieo hạt xấu
vào mảnh đất xấu, đáng lẽ thâu hoạch
rất ít, nhưng nếu chịu chăm chỉ tát
nước rắc phân, th́ có thể số thu hoạch
sẽ khả quan hơn.
c.
Thập nhị nhân duyên.
(Sẽ tiếp)